DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT CÔNG CHỨNG | Project | Vietluatlaw
Home | Sitemap
Giới thiệu
  Lịch sử Vlaw
  Đặc trưng
  Mục tiêu hoạt động
  Khách hàng tiêu biểu
Ấn phẩm
        Ấn phẩm chi tiết - Văn bản pháp luật được nhiều người quan tâm
DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT CÔNG CHỨNG

QUỐC HỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Luật số:       /2013/QH13
(Dự thảo 3)
 

 
LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG
 
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng số 82/2006/QH11,
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng:
1. Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 2. Công chứng
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luậtphải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng, chứng nhận chữ ký người dịch và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật có liên quan.
2. Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 5. Lời chứng của công chứng viên
1. Nội dung lời chứng của công chứng viên phải rõ ràng, chặt chẽ, thể hiện rõ trách nhiệm của công chứng viên đối với việc công chứng, ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch, cam kết của người dịch đối với nội dung bản dịch.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định mẫu lời chứng hợp đồng, giao dịch và lời chứng chữ ký người dịch.
3. Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 6. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
1. Văn bản công chứngcó giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch và các cơ quan, tổ chức liên quan. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.
Trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận về quyền được yêu cầu cưỡng chế thi hành nghĩa vụ thì khi một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền được yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế thi hành hợp đồng, giao dịch đó.
2. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố vô hiệu.
3. Chữ ký của người dịch được công chứng viên chứng nhận có giá trị chứng minh người dịch đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người dịch về nội dung của bản dịch.”
4. Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:
            Điều 7. Công chứng viên
            Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Nhà nước bổ nhiệm để hành nghề công chứng.
Công chứng viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch và của chữ ký người dịch mà mình đã chứng nhận, chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.
5. Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 10. Tiếng nói và chữ viết dùng trong công chứng
1. Tiếng nói và chữ viết dùng trong công chứng là tiếng Việt.
2. Người yêu cầu công chứng không thông thạo tiếng Việt thì phải có người phiên dịch.
6. Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:
            “Điều 11. Quản lý nhà nước về công chứng
            1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chứng.
            2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
            a) Xây dựng và trình Chính phủ chính sách phát triển công chứng;
            b) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng;
            c) Quy định chương trình khung và giám sát việc đào tạo nghề công chứng; ban hành Quy chế tập sự hành nghề công chứng; ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên;
d) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng;
đ) Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện chuyển giao thẩm quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng;
e) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, triển khai, quản lý việc thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam; điều chỉnh hoặc trình cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch trong cả nước; hướng dẫn về tiêu chí chung xét duyệt hồ sơ thành lập Văn phòng công chứng trên phạm vi cả nước;
g) Xây dựng quy hoạch đội ngũ công chứng viên trong cả nước và tổ chức thực hiện quy hoạch;
h) Phê duyệt Điều lệ của Hiệp hội công chứng Việt Nam; đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những quy định, quyết định và nghị quyết của Hiệp hội trái với quy định của Luật này;
i) Trực tiếp hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan tổ chức kiểm tra, thanh tra; xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng viên, tổ chức và hành nghề công chứng theo thẩm quyền;
k) Yêu cầu các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo về tổ chức, hoạt động công chứng; tổng kết, báo cáo Chính phủ về công chứng;
l) Quản lý và thực hiện hợp tác quốc tế về công chứng;
m) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định pháp luật có liên quan.
            3. Bộ Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện công chứng của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao được giao thực hiện công chứng.
            4. Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng.
            5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
            a) Thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương để đáp ứng nhu cầu công chứng của tổ chức, cá nhân; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng;
            b) Thành lập Phòng công chứng tại những địa bàn không phát triển được Văn phòng công chứng; bảo đảm cơ sở vật chất và phương tiện làm việc chocác Phòng công chứng; giải thể hoặc chuyển đổi Phòng công chứng;
            c) Hỗ trợ phát triển các Văn phòng công chứng ở những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; ban hành quy chế xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương; cho phép thành lập và thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng; tổ chức việc cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng;
d) Quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã sang tổ chức hành nghề công theo quy định pháp luật và lộ trình phù hợp;
đ) Chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng tại địa phương và ban hành quy chế khai thác, sử dụng, cung cp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 34b của Luật này;
            e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng theo thẩm quyền; phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác kiểm tra, thanh tra về tổ chức, hoạt động công chứng theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều này;
            g) Tổng hợp tình hình và thống kê về công chứng trong địa phương gửi Bộ Tư pháp;
h) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định pháp luật có liên quan.
6. Sở Tư pháp chịu trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Cấp, thu hồi Thẻ công chứng viên;
b) Xây dựng Đề án thành lập, giải thể Phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định;
c) Đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên; đăng ký hành nghề cho công chứng viên thường trú tại địa phương;
d) Quyết định tạm đình chỉ hành nghề công chứng đối với công chứng viên và tạm ngừng hoạt động của Văn phòng công chứng;
đ) Tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Khoản 5 Điều này;
e) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định pháp luật có liên quan.
7. Bổ sung Điều 11a và 11b sau Điều 11 như sau:
1. Hiệp hội công chứng Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong phạm vi cả nước, đại diện cho công chứng viên, Hội công chứng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hiệp hội công chứng Việt Nam có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và nguồn thu hợp pháp khác.
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Hiệp hội công chứng Việt Nam.
2. Thành viên của Hiệp hội công chứng Việt Nam là các công chứng viên và các Hội công chứng.
Các công chứng viên tham gia Hiệp hội công chứng Việt Nam thông qua Hội công chứng mà mình gia nhập.
3. Hiệp hội công chứng Việt Nam có Điều lệ.
4. Chính phủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và các cơ quan của Hiệp hội công chứng Việt Nam.
Điều 11b. Hội công chứng
1. Hội công chứng là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và các nguồn thu hợp pháp khác.
2. Tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có từ năm công chứng viên trở lên thì được thành lập Hội công chứng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập Hội công chứng sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Thành viên của Hội công chứng là các công chứng viên.
3. Hội công chứng không được ban hành nghị quyết, quyết định, nội quy, quy định về phí, khoản thu và các quy định khác trái với quy định của pháp luật và Điều lệ của Hiệp hội công chứng Việt Nam.
4. Chính phủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và các cơ quan của Hội công chứng.”
8. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:
            “Điều 12. Các hành vi bị nghiêm cấm
            1. Nghiêm cấm công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện các hành vi sau đây:
            a) Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng mà mình biết được khi hành nghề, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin đó để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
            b) Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; công chứng liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của vợ hoặc chồng, cháu là con của con trai, con gái, con nuôi;
c) Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;
d) Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thoả thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và các bên liên quan;
đ) Lôi kéo hoặc ép buộc người yêu cầu công chứng sử dụng dịch vụ công chứng của mình; cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng và hồ sơ đã công chứng;
            e) Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho tổ chức hành nghề công chứng của mình trong việc hành nghề công chứng.
            g) Mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở tổ chức hành nghề công chứng;
h) Quảng cáo sai sự thật hoặc trái quy định của pháp luật về công chứng viên và tổ chức mình;
i) Các hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức xã hội khác.
            2. Nghiêm cấm người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật.
            3. Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức có hành vi giả mạo người yêu cầu công chứng.
            4. Nghiêm cấm người làm chứng có hành vi gian dối, không trung thực.
            5. Nghiêm cấm cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cản trở hoạt động công chứng.
9. Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
            Điều 13. Tiêu chuẩn công chứng viên
            1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm công chứng viên:
            a) Có bằng cử nhân luật;
            b) Có thời gian công tác pháp luật từ đủ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức;
            c) Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng;
            d) Đã hoàn thành thời gian tập sự hành nghề công chứng và đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng;
            đ) Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng.
            2. Thời gian đào tạo nghề công chứng và tập sự hành nghề công chứng được tính vào thời gian công tác pháp luật.
3. Công chứng viên hành nghề đến năm đủ 65 tuổi.
10. Điều 15 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 15. Người được miễn đào tạo nghề công chứng
1. Những người sau đây được miễn đào tạo nghề công chứng:
a) Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, công chứng viên;
b) Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật.
2. Người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại Khoản 1 Điều này phải tham gia khóa bồi dưỡng nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, trừ người đã là công chứng viên mà thời gian nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển làm công việc khác không quá 5 năm.
Thời gian của khoá bồi dưỡng là một tháng. Người hoàn thành khóa bồi dưỡng được cấp Giấy chứng nhận.
3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về khoá bồi dưỡng nghề công chứng quy định tại Khoản 2 Điều này.
11. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 16. Tập sự hành nghề công chứng
1. Người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng và người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại Điều 15 của Luật này phải tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng.
2. Người tập sự hành nghề công chứng đăng ký tập sự tại Sở Tư pháp địa phương nơi có trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng mà mình tập sự. Sở Tư pháp có trách nhiệm giám sát việc tập sự hành nghề công chứng.
Thời gian tập sự hành nghề công chứng là mười hai tháng, trừ trường hợp được giảm thời gian tập sự quy định tại Điều 17 của Luật này. Thời gian tập sự được tính từ ngày tập sự tại tổ chức hành nghề công chứng.
3. Tổ chức hành nghề công chứng phân công công chứng viên hướng dẫn người tập sự hành nghề công chứng. Công chứng viên hướng dẫn tập sự phải có ít nhất ba năm kinh nghiệm hành nghề công chứng và không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác hoặc bị xử lý kỷ luật. Tại cùng một thời điểm, một công chứng viên không được hướng dẫn quá ba người tập sự.
            4. Người tập sự hành nghề công chứng được thực hiện các công việc liên quan đến công chứng do công chứng viên hướng dẫn phân công và chịu trách nhiệm trước công chứng viên hướng dẫn về những công việc đó; không được ký văn bản công chứng.
Khi hết thời gian tập sự, người tập sự hành nghề công chứng phải báo cáo kết quả tập sự bằng văn bản có nhận xét của công chứng viên hướng dẫn về năng lực chuyên môn, tư cách đạo đức gửi Sở Tư pháp nơi đăng ký tập sự.”
12. Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 17. Người được giảm thời gian tập sự hành nghề công chứng
Người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tại Điều 15 của Luật này được giảm một phần hai thời gian tập sự hành nghề công chứng.”
13. Bổ sung Điều 17a sau Điều 17 như sau:
Điều 17a. Kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng
1. Người tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng là người đã hoàn thành thời gian tập sự theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này.
            2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Hiệp hội công chứng Việt Nam tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng.
3. Việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng do Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng tiến hành. Thành phần Hội đồng gồm đại diện Lãnh đạo Bộ Tư pháp làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Hiệp hội công chứng Việt Nam, đại diện cơ sở đào tạo nghề công chứng và một số công chứng viên là thành viên; danh sách thành viên Hội đồng do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định.
            Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng hoạt động theo Quy chế tập sự hành nghề công chứng. Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng được cấp Giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự hành nghề công chứng.
            14. Điều 18 được sửa đổi, bổ sung như sau:
            Điều 18. Bổ nhiệm công chứng viên
1. Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng có quyền đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên gửi Sở Tư pháp ở địa phương nơi đăng ký tập sự, gồm có:
a) Đơn đề nghị bổ nhiệm công chứng viên;
b) Bản sao bằng cử nhân luật hoặc bằng thạc sỹ luật hoặc bằng tiến sỹ luật;
c) Giấy tờ chứng minh về thời gian công tác pháp luật;
d) Bản sao Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng hoặc giấy tờ chứng minh là người được miễn đào tạo nghề công chứng, kèm theo Giấy chứng nhận khóa bồi dưỡng nghề công chứng theo quy định tại Điều 15 của Luật này;
đ) Báo cáo kết quả tập sự hành nghề công chứng có nhận xét của công chứng viên hướng dẫn;
e) Bản sao Giấy chứng nhận kết quả kiểm tra tập sự hành nghề công chứng;
g) Sơ yếu lý lịch;
h) Phiếu lý lịch tư pháp;
i) Giấy chứng nhận sức khoẻ.
2. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên quy định tại khoản 1 Điều này, Sở Tư pháp phải có văn bản đề nghị bổ nhiệm công chứng viên kèm theo hồ sơ gửi Bộ trưởng Bộ Tư pháp; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
3. Trong thời hạn hai mươi ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định bổ nhiệm công chứng viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Sở Tư pháp, người nộp hồ sơ. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định bổ nhiệm công chứng viên có giá trị trên toàn quốc. Công chứng viên được bổ nhiệm đăng ký hành nghề tại địa phương nơi thường trú.
15. Bổ sung Điều 18a sau Điều 18 như sau:
Điều 18a. Thẻ công chứng viên
1. Thẻ công chứng viên được Sở Tư pháp nơi có trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng cấp cho công chứng viên đang hành nghề tại tổ chức đó. Công chứng viên phải mang theo Thẻ công chứng viên khi hành nghề.
2. Công chứng viên đã được cấp Thẻ công chứng viên nếu thay đổi tổ chức hành nghề công chứng hoặcbị mất, bị hỏng Thẻ thì được xem xét cấp lại Thẻ.
Thẻ công chứng viên bị thu hồi trong trường hợp công chứng viên bị miễn nhiệm hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định mẫu Thẻ công chứng viên, hướng dẫn thủ tục cấp, cấp lại và thu hồi Thẻ công chứng viên.
16. Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 22. Quyền và nghĩa vụ của công chứng viên
1. Công chứng viên có các quyền sau đây:
a) Được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề công chứng theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan;
b) Thành lập hoặc tham gia thành lập một Văn phòng công chứng hoặc làm việc theo hợp đồng cho một Văn phòng công chứng;
c) Đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện việc công chứng;
d) Các quyền khác quy định tại Luật này.
2. Công chứng viên có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân thủ các nguyên tắc hành nghề công chứng;
b) Hành nghề chuyên trách; không được đồng thời hành nghề khác hoặc kiêm nhiệm chức danh tư pháp khác;
c) Đăng ký hành nghề tại Sở Tư pháp địa phương nơi mình thường trú và hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng; trong trường hợp thay đổi tổ chức hành nghề thì phải đăng ký và đề nghị Sở Tư pháp cấp lại Thẻ công chứng viên;
d) Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người yêu cầu công chứng;
đ) Giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;
e) Tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên và tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng;
g) Chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật đối với văn bản công chứng do mình thực hiện; trường hợp công chứng chữ ký người dịch thì công chứng viên chịu trách nhiệm về việc chứng nhận chữ ký đó;
Công chứng viên có lỗi khi hành nghề công chứng gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khác thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
17. Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 26. Văn phòng công chứng
1. Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập và phải có từ hai công chứng viên trở lên, bao gồm cả công chứng viên làm việc theo hợp đồng.
Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật có liên quan đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập chỉ có công chứng viên hợp danh, không có công chứng viên góp vốn hoặc thành viên góp vốn.
Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên.
2. Văn phòng công chứng có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác.
Chính phủ quy định con dấu của Văn phòng công chứng.
3. Tên gọi của Văn phòng công chứng do công chứng viên lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
18. Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 28. Thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng
1. Khi thay đổi trụ sở, tên gọi hoặc danh sách công chứng viên thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày quyết định thay đổi, Văn phòng công chứng phải đăng ký với Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động.
Trong trường hợp thay đổi danh sách công chứng viên là thành viên hợp danh, Sở Tư pháp ghi nhận việc thay đổi trên Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng. Chính phủ quy định việc thay đổi danh sách công chứng viên là thành viên hợp danh quy định tại khoản này.
Trong trường hợp thay đổi trụ sở, tên gọi hoặc Trưởng Văn phòng công chứng, Văn phòng công chứng được cấp Giấy đăng ký hoạt động mới; Văn phòng công chứng thay đổi Trưởng Văn phòng phải làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định tại Điều 32b của Luật này trước khi đề nghị cấp Giấy đăng ký hoạt động mới.
2. Trường hợp Giấy đăng ký hoạt động bị mất, bị rách, bị cháy hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, tổ chức hành nghề công chứng được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động.
19. Điều 31 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 31. Quyền của tổ chức hành nghề công chứng
1. Thuê nhân viên làm việc cho tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức hành nghề công chứng là Văn phòng công chứng được thuê công chứng viên làm việc theo hợp đồng.
2. Thu phí công chứng, thù lao công chứng, chi phí khác.
3. Được cung cấp thông tin liên quan đến việc công chứng hợp đồng, giao dịch.
4. Yêu cầu công chứng viên hoàn trả số tiền mà tổ chức hành nghề công chứng đã bồi thường cho cá nhân, tổ chức do lỗi của công chứng viên đó.
5. Làm việc vào ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước quy định tại Khoản 4 Điều 32 để tạo điều kiện thuận lợi cho người yêu cầu công chứng.
Việc yêu cầu công chứng viên và nhân viên làm thêm giờ phải tuân thủ quy định của Bộ luật lao động về sử dụng lao động làm thêm giờ.
6. Các quyền khác theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật có liên quan.”
20. Điều 32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 32. Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng
1. Niêm yết lịch làm việc, thủ tục công chứng, phí công chứng, thù lao công chứng nội quy tiếp người yêu cầu công chứng tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
2. Tạo điều kiện cho công chứng viên của tổ chức mình tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.
3. Nhận người tập sự hành nghề công chứng và cử công chứng viên có đủ điều kiện hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người tập sự được tập sự, giám sát quá trình tập sự của người tập sự hành nghề công chứng.
4. Thực hiện chế độ làm việc theo ngày, giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước.
5. Chấp hành các quy định của pháp luật về lao động, thuế, tài chính, thống kê.
6. Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra.
7. Bồi thường thiệt hại do lỗi mà công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng gây ra cho người yêu cầu công chứng.
8. Lưu trữ hồ sơ công chứng.
9. Chia sẻ, cung cấp thông tin về hợp đồng, giao dịch đã công chứng theo quy định của pháp luật.
10. Thực hiện việc quản lý và bảo đảm cho công chứng viên của tổ chức mình tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.
11. Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình.
12. Văn phòng công chứng phải đăng ký danh sách công chứng viên làm việc theo hợp đồng và thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt hợp đồng làm việc với công chứng viên cho Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động.
13. Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
21. Bổ sung Điều 32a và 32b sau Điều 32 như sau:
Điều 32a. Tạm ngừng hoạt động của Văn phòng công chứng
1. Văn phòng công chứng có quyền tạm ngừng hoạt động nếu có lý do chính đáng hoặc thuộc trường hợp bất khả kháng, nhưng phải báo cáo bằng văn bản với Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động chậm nhất là mười ngày làm việc trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục hoạt động.
2. Sở Tư pháp nơi Văn phòng công chứng đăng ký hoạt động có quyền yêu cầu Văn phòng công chứng tạm ngừng hoạt động trong các trường hợp sau:
a) Công chứng viên là Trưởng Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập hoặc tất cả các công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập btạm đình chỉ hành nghcông chứng;
b) Văn phòng công chứng không đảm bảo điều kiện hành nghề công chứng theo quy định của Luật này.
3. Thời gian tạm ngừng hoạt động tối đa là ba tháng. Văn phòng công chứng tạm ngừng hoạt động quá hai lần trong một năm thì phải chấm dứt hoạt động.
4. Chính phủ quy định về nghĩa vụ, trình tự, thủ tục và việc lưu trữ hồ sơ công chứng, cấp bản sao văn bản công chứng đối với Văn phòng công chứng tạm ngừng hoạt động.
Điều 32b. Chuyển nhượng Văn phòng công chứng
1. Văn phòng công chứng được chuyển nhượng trong các trường hợp sau:
a) Theo quyết định của Trưởng Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập hoặc theo thoả thuận của tất cả các công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập;
b) Trưởng Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập hoặc tất cả các công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập chết, bị Toà án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự hoặc không còn đủ điều kiện sức khỏe để hành nghề.
2.Người có quyền đề nghị chuyển nhượng Văn phòng công chứng là công chứng viên hoặc người đại diện, người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của công chứng viên.
            3. Điều kiện đối với người nhận chuyển nhượng Văn phòng công chứng:
            a) Là công chứng viên thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Văn phòng công chứng được chuyển nhượng đặt trụ sở;
            b) Không đồng thời là Trưởng Văn phòng công chứng hoặc công chứng viên hợp danh tại một Văn phòng công chứng khác, không làm việc theo hợp đồng cho một Văn phòng công chứng khác tại thời điểm nhận chuyển nhượng;
c) Kế thừa quyền và nghĩa vụ của Văn phòng công chứng được chuyển nhượng.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển nhượng Văn phòng công chứng sau khi nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp.
            Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục chuyển nhượng Văn phòng công chứng. 
22. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:
Điều 33. Giải thể, chuyển đổi Phòng công chứng
1. Trong trường hợp không cần thiết duy trì Phòng công chứng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định giải thể Phòng công chứng hoặc chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng.
2. Phòng công chứng chỉ được giải thể sau khi thanh toán xong các khoản nợ, làm xong thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với người lao động, thực hiện xong các yêu cầu công chứng đã tiếp nhận.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định giải thể Phòng công chứng, Sở Tư pháp phải đăng báo trung ương hoặc báo địa phương trong hai số liên tiếp về việc giải thể Phòng công chứng.
3. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Đề án chuyển đổi Phòng công chứng quy định tại Khoản 1 Điều này.
23. Bổ sung Điều 34a, 34b và 34c sau Điều 34 như sau:
Điều 34a. Hợp đồng, giao dịch phải công chứng và hợp đồng, giao dịch công chứng theo yêu cầu
1. Hợp đồng, giao dịch phải công chứng bao gồm:
a) Hợp đồng, giao dịch về chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; hợp đồng, giao dịch về mua bán, tặng cho, thế chấp, đổi, góp vốn bằng nhà;
b) Hợp đồng, giao dịch ủy quyền có cho phép người nhận ủy quyền được chuyển nhượng, định đoạt quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; chuyển nhượng, định đoạt nhà; khai nhận, phân chia di sản thừa kế là đất, nhà;
c) Hợp đồng, giao dịch về tàu bay, tàu biển;
d) Các hợp đồng, giao dịch phải công chứng khác theo quy định của pháp luật.
2. Các hợp đồng, giao dịch không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều này thì việc công chứng được thực hiện theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
Điều 34b. Cơ sở dữ liệu về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng
1. Các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng phải được xây dựng thành cơ sở dữ liệu tin học hóa tập trung thống nhất để phục vụ cho việc cung cấp thông tin trong hoạt động công chứng.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng và ban hành quy chế khai thác, sử dụng, cung cp thông tin giữa các tổ chức hành nghề công chứng với nhau, giữa các tổ chức hành nghề công chứng với các cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong phạm vi địa phương mình và cung cấp thông tin trong trường hợp có yêu cu của tchức hành nghcông chứng ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác.
3. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng quy định tại Khoản 2 Điều này và xây dựng Đề án cơ sở dữ liệu toàn quốc về hợp đồng, giao dịch đã được công chứng.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quanhướng dẫn việc cung cấp thông tin quy định tại Khoản 2 Điều này.
Điều 34c. Thực hiện dịch vụ pháp lý theo ủy quyền của người yêu cầu công chứng
Người yêu cầu công chứng có thể ủy quyền cho tổ chức hành nghề công chứng đại diện cho mình để thực hiện các dịch vụ pháp lý sau khi công chứng hợp đồng, giao dịch, bao gồm việc nộp thuế, lệ phí, làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
24. Điều 35 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 35. Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn
1. Hồ sơ yêu cầu công chứng gồm các giấy tờ sau đây:
a) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu;
b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao giấy tờ tuỳ thân;
d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;
đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
2. Bản sao quy định tại khoản 1 Điều này là bản chụp, bản in, bản đánh máy hoặc bản đánh máy vi tính nhưng phải có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính và không phải có chứng thực.
3. Công chứng viên kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng. Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật thì thụ lý, giải quyết theo quy định của Luật này.
4. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe doạ, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng.
5. Công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với thực tế thì công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa. Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng.
6. Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe. Trường hợp người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng, giao dịch thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên ghi lời chứng; ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch.
Người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản chính của các giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này để công chứng viên đối chiếu trước khi công chứng viên ghi lời chứng và ký vào hợp đồng, giao dịch.”
25. Điều 47 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 47. Công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản
1. Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau cùng được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc công chứng hợp đồng thế chấp đó do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có một trong số bất động sản thực hiện.
3. Một bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp theo phải do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu thực hiện. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hợp đồng thế chấp công chứng hợp đồng đó.”
26. Bổ sung Điều 52a sau Điều 52 như sau:
Điều 52a. Chứng nhận chữ ký người dịch
            1. Người dịch yêu cầu chứng nhận chữ ký của mình phải nộp hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm các giấy tờ sau đây:
a) Chứng chỉ hành nghề dịch thuật;
b) Bản dịch và bản chính văn bản, giấy tờ được dịch;
c) Bản sao giấy tờ tùy thân đối với trường hợp người dịch theo vụ việc.
2. Công chứng viên kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ. Trường hợp hồ sơ đầy đủ, phù hợp thì công chứng viên yêu cầu người dịch ký vào từng trang của bản dịch, công chứng viên ghi lời chứng, ký, ghi rõ họ, tên và đóng dấu tổ chức hành nghề công chứng.
3. Việc chứng nhận chữ ký người dịch được thực hiện ngay trong ngày làm việc; nếu hồ sơ được nộp sau 15 giờ (3 giờ chiều) thì việc chứng nhận được thực hiện chậm nhất trong ngày làm việc tiếp theo.
4. Bản dịch phải được đính kèm bản của giấy tờ, văn bản cần dịch và đóng dấu giáp lai giữa các tờ. Tại trang đầu tiên của bản dịch phải ghi rõ chữ “Bản dịch” vào phía trên bên phải. Nếu bản dịch có từ hai trang trở lên thì phải đánh số trang và đóng dấu giáp lai giữa các tờ.
5. Không được chứng nhận chữ ký người dịch trong các trường hợp sau đây:
a) Công chứng viên biết hoặc phải biết bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc không hợp lệ; bản chính là giả mạo;
b) Giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt mà không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ, văn bản đó.
c) Giấy tờ, văn bản bị hư hỏng không xác định được nội dung.
d) Giấy tờ, văn bản có xác định độ mật của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức đoàn thể khác.
đ) Giấy tờ, văn bản có nội dung tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xâm hại đến an ninh quốc gia; xuyên tạc lịch sử; xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; trái đạo đức xã hội.
            6. Người dịch quy định tại Điều này phải được cấp chứng chỉ hành nghề dịch thuật và là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng, trừ trường hợp là người dịch theo vụ việc.
Người dịch phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, khách quan, trung thực về nội dung của bản dịch so với bản chính.
27. Điều 54 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 54.Chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng
1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bảo quản chặt chẽ, thực hiện biện pháp an toàn đối với hồ sơ công chứng.
2. Bản chính văn bản công chứng phải được lưu trữ trong thời hạn ít nhất là hai mươi năm; các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ trong thời hạn ít nhất là năm năm.
Hết thời hạn quy định tại đoạn 1 Khoản này, bản chính văn bản công chứng được chuyển sang lưu trữ lịch sử theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
3. Trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công chứng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và các giấy tờ khác có liên quan. Việc đối chiếu bản sao văn bản công chứng với bản chính chỉ được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng nơi đang lưu trữ hồ sơ công chứng.
4. Trong trường hợp Phòng công chứng bị giải thể thì hồ sơ công chứng phải được chuyển cho một Phòng công chứng khác hoặc một Văn phòng công chứng do Sở Tư pháp chỉ định.
Trong trường hợp Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động thì Văn phòng công chứng đó phải thoả thuận với một Văn phòng công chứng khác về việc tiếp nhận hồ sơ công chứng; nếu không thoả thuận được thì báo cáo Sở Tư pháp chỉ định một Phòng công chứng hoặc một Văn phòng công chứng khác tiếp nhận hồ sơ công chứng.”
28. Điều 65 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 65. Việc công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
1. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch sau:
a) Các hợp đồng, giao dịch theo quy định của Luật này và pháp luật về lãnh sự, ngoại giao, trừ hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng bất động sản tại Việt Nam;
b) Văn bản ủy quyền để thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến bất động sản, động sản ở Việt Nam;
c) Di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản tại Việt Nam, văn bản tặng cho toàn bộ hoặc một phần quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác.
2. Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao được giao thực hiện công chứng phải có bằng cử nhân luật hoặc được bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.
3. Viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao thực hiện công chứng theo thủ tục quy định tại Chương IV của Luật này, có quyền quy định tại các điểm c và d khoản 1 và nghĩa vụ quy định tại các điểm a, d và đ khoản 2 Điều 22 của Luật này.
29. Bổ sung Điều 65a sau Điều 65 như sau:
Điều 65a. Việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
1. Tại những địa bàn cấp huyện chưa thành lập được tổ chức hành nghề công chứng hoặc tổ chức hành nghề công chứng chưa đảm đương được yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.
2. Việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được thực hiện theo trình tự, thủ tục như đối với việc công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Luật này và quy định pháp luật có liên quan.
30. Điều 66 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Điều 66. Điều khoản chuyển tiếp
1. Người đang là công chứng viên thì được tiếp tục hành nghề công chứng theo quy định của Luật này.
2. Người đang tập sự theo quy định của Luật công chứng 2006 thì được công nhận thời gian đã tập sự, tiếp tục hoàn thành thời gian tập sự còn lại theo quy định của Luật này và phải tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng.
3. Các nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong việc ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng và kiểm tra hết tập sự hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 11 và Điều 17a Luật này được chuyển giao cho Hiệp hội công chứng Việt Nam khi Hiệp hội được thành lập và tiếp nhận các nhiệm vụ này.
31. Bỏ cụm từ “sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” tại khoản 5 Điều 11; bỏ cụm từ “đăng ký” tại Khoản 1; bỏ cụm từ “của khóa” tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 14 và bỏ cụm từ “tiếp nhận hồ sơ” tại Khoản 3 Điều 35 của Luật công chứng số 82/2006/QH11.
Điều 2.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày     tháng     năm         .
2. Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành những điều, khoản được giao trong Luật.
 

 

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa   , kỳ họp thứ    thông qua ngày     tháng    năm     .
  
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI


 

Nguyễn Sinh Hùng
 

 



Hỗ trợ trực tuyến
Hotline
04.37712285

Việt Luật 1

Việt Luật 2
Liên kết website

Nhãn hiệu được tư vấn
Thống kê truy cập
Online:: 50
Thống kê truy cập: 1316875