Các hình thức của di chúc, theo quy định tại Điều 627, 628 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc có thể lập thành văn bản hoặc di chúc miệng. Với mỗi hình thức lập di chúc thì để một di chúc được xác định là hợp pháp, có hiệu lực trên thực tế, pháp luật đều yêu cầu di chúc đã lập phải đáp ứng các điều kiện nhất định về mặt hình thức.

1. Di chúc bằng văn bản

Theo quy định của BLDS 2015 thì di chúc bằng văn bản bao gồm những loại sau:

– Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

– Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

– Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực

– Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực

1.1 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 633 BLDS 2015)

Đối với di chúc bằng văn bản thì người lập di chúc phải tự viết và kí vào bản di chúc. Để di chúc thực sự là phương tiện phản ánh ý chí đích thực cuối cùng của người chết, di chúc lập theo thể thức này phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về nội dung quy định tại Điều 631 BLDS. Nếu di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thể hiện dưới dạng đánh máy thì bản di chúc đó sẽ không hợp pháp mặc dù đã có chữ ký của người lập di chúc. Ngược lại, dù di chúc đó do chính tay họ viết nhưng bản di chúc đó không có chữ ký của người lập di chúc cũng sẽ không có giá trị pháp lý. Đương nhiên để tự tay viết được di chúc thì người lập di chúc phải biết chữ và bản di chúc sẽ được viết dưới dạng ngôn ngữ tiếng Việt hoặc của dân tộc thiểu số ít người khác.

1.2 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định về nội dung của di chúc tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 và quy định về người làm chứng cho việc lập di chúc tại Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015.

Đối với quy định về người làm chứng, căn cứ theo quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những trường hợp sau đây:

–          Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

–          Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc;

–          Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

1.3 Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực

Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng bản di chúc.

a)      Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân thủ theo thủ tục sau đây:

  • Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã ký vào bản di chúc.
  • Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Tuy nhiên, một số trường hợp, Công chứng viên, người có thẩm quyền của UBND cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
  • Người có cha, mẹ, vợ hoặc chống, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;
  • Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

1.4. Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực:

Trên thực tế, có những trường hợp người lập di chúc muốn công chứng, chứng thực di chúc nhưng lại không thể thực hiện công tác đó vì ở quá xa nơi công chứng hoặc UBND cấp xã. Do đó, để dự liệu cho những trường hợp như thế, BLDS 2015 đã có quy định về di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực. Đó là những trường hợp đặc biệt sau đây:

+ Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.

+ Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.

+ Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.

+ Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.

+ Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.

+ Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo cho cá nhân quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của họ ngay cả khi họ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, chỉ trong hoàn cảnh đó thì mới được coi là có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực. Vì vậy, khi người lập di chúc đã trở lại điều kiện bình thường, có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận, chứng thực di chúc nhưng nếu họ không yêu cầu chứng thực, chứng nhận lại di chúc mà họ đã lập thì những bản di chúc đó thì sẽ không được thừa nhận có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực; đồng thời cũng không được coi là di chúc đó đã bị hủy bỏ.

2. Di chúc miệng

Di chúc miệng (chúc ngôn) là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác sau khi chết.

Tuy nhiên, “lời nói gió bay” nên pháp luật dân sự hiện hành dù có cho phép một người được để lại di chúc bằng lời nói nhưng lại không hề khuyến khích việc cá nhân có di sản thừa kế để lại di chúc dưới hình thức này. Do đó, việc di chúc miệng chỉ được thừa nhận trong một số ít những trường hợp rất đặc biệt với thủ tục rất nghiêm ngặt. Theo khoản 1 Điều 629 BLDS 2015 thì chỉ khi tính mạng của một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Ví dụ như người đó bị tai nạn giao thông bất ngờ mà không thể lường trước được; hoặc bệnh nặng và rơi vào trường hợp nguy kịch sắp chết,…

Thêm đó, không phải cá nhân nào ở trong hoàn cảnh trên cũng được phép lập di chúc miệng mà phải đảm bảo yêu cầu về độ tuổi. Cụ thể người lập di chúc miệng phải là người thành niên, tại thời điểm lập di chúc hoàn toàn minh mẫn và sáng suốt.  Do đó, người từ 15 đến 18 tuổi thì không có quyền lập di chúc.

Người để lại di chúc miệng phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ. BLDS 2015 cũng quy định về điều kiện của người làm chứng, theo đó người được pháp luật cho phép làm chứng phải không thuộc vào phạm vi điều cấm của Điều 632:

“Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”