Ngày 18/04/2022 VKSND Tối cao vừa ban hành hướng dẫn số 25/HD-VKSTC về một số nội dung liên quan đến hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Viện Kiểm sát tối cao cho biết, quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng là một dạng tranh chấp về hợp đồng và bản chất là quan hệ vay mượn, đa số có lãi. Nguyên đơn khởi kiện các vụ án này thường là các tổ chức tín dụng.

Theo Viện Kiểm sát, quá trình giải quyết tố tụng thực tế thời gian qua vẫn còn nhiều vi phạm, thiếu sót của tòa án cấp dưới, thể hiện qua số bản án bị tòa án cấp trên hủy, sửa vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu các vụ án kinh doanh thương mại bị hủy, sửa.

Theo hướng dẫn này, có 13 vi phạm phổ biến thường gặp trong việc giải quyết các vụ án KDTM về tranh chấp HĐTD gồm:

STT Vi phạm Căn cứ pháp lí Hướng dẫn giải quyết
1 Xác định không đúng tư cách tố tụng của đương sự

Khoản 6 Điều 84 BLDS năm 2015

Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020

Cần xác định pháp nhân là đương sự và phải xác định ông, bà…(chủ doanh nghiệp tư nhân) tham gia tố tụng.

 

2 Bỏ sót vợ hoặc chồng tham gia tố tụng đối với trường hợp tài sản thế chấp đứng tên một người trong thời kỳ hôn nhân

Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959

Không chỉ được xem xét nội dung trong GCNQSDĐ mà cần phải căn cứ vào các quy định về tài sản chung của vợ chồng, nguồn gốc hình thành tài sản để xem xét đưa vợ/chồng (người không đứng tên trong GCNQSDĐ) vào tham gia tố tụng với tư cách đương sự để giải quyết vụ án triệt để, toàn diện.

 

3 Bỏ sót thành viên hộ gia đình có quyền đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đứng tên “hộ gia đình”

Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013

Điều 212 BLDS năm 2015

Điều 212 BLDS năm 2015

Không chỉ căn cứ vào nội dung trong GCNQSDĐ và SHK mà cần phải xác định ai mới là thành viên của hộ thực sự có quyền tài sản.

 

4 Đình chỉ giải quyết vụ án do doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, bị giải thể không đúng Điểm a, khoản 2 Điều 74 BLTTDS năm 2015 Cần phải xác định cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng để tiếp tục giải quyết vụ án đó theo thủ tục chung.
5 Đình chỉ giải quyết vu án hoặc trả lại đơn khởi kiện do bị đơn thay đổi địa chỉ không đúng Điều 174,175  Bộ luật hình sự 2015

Điểm a, b, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP

Trường hợp bị đơn, người liên quan “cố tình giấu địa chỉ” thì xem xét có dấu hiệu hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trường hợp không đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì tiếp tục giải quyết vụ án mà không đình chỉ hoặc trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp Tòa án không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn và người liên quan thì Tòa án có thể thông qua thủ tục niêm yết để xét xử vắng mặt hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng khi có yêu cầu của các đương sự khác trong vụ án.
6 Việc xác định thời hiệu khởi kiện Điều 429 và khoản 2 Điều 155 BLDS năm 2015

 

Theo khoản 2 Điều 155 BLDS năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu đối với “Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, nên Tòa án vẫn thụ lý, giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo thủ tục chung
7 Vi phạm trong việc phạt vi phạm và tính lãi Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019

Hiện nay, chưa có quy định nào cho phép phạt nhiều lần về cùng vi phạm trong HĐTD

Nếu các bên đã thỏa thuận về lãi suất quá hạn (thường bằng 150% lãi suất vay trong hạn), lại còn quy định thêm khoản phạt chậm trả hoặc lãi đối với lãi chậm trả là không đúng
8 Không xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp Điều 101 BLTTDS năm 2015 Trường hợp Tòa án không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ vì cho rằng không có ai yêu cầu, hoặc trường hợp khi vụ án bị hủy để xét xử lại Tòa án cho rằng giai đoạn xét xử trước đây đã xem xét thẩm định tại chỗ, thì KSV cần yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định lại tài sản, vì qua thời gian, tài sản có thể có những biến động, như có sự thay đổi về tài sản trên đất, người quản lý tài sản…
9 Việc tuyên hợp đồng thế chấp bị vô hiệu không đúng Điều 133, 325, 326 BLDS năm 2015

Công văn Giải đáp nghiệp vụ số 02/2021/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của TAND tối cao (mục 1 phần III)

Trường hợp HĐTC được ký kết tự nguyện, được công chứng, chứng thực, tài sản đã được TCTD xem xét, thẩm định và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định, thì không vì những lý do như có tài sản phát sinh trên đất tranh chấp, giao dịch về tài sản trước đó bị vô hiệu để xác định vô hiệu, mà phải công nhận hiệu lực của HĐTC
10 Xác định việc thế chấp tài sản của bên thứ ba vô hiệu không đúng Khoản 1 Điều 335 và khoản 3 Điều 336 BLDS năm 2015 Những thỏa thuận xử lý tài sản của bên thứ ba phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 335 và khoản 3 Điều 336 BLDS năm 2015 này vẫn có hiệu lực, không bị vô hiệu.
11 Vi phạm do vượt quá phạm vi bảo đảm cho khoản tiền vay Phải xem xét kỹ phạm vi bảo đảm đối với khoản tiền vay trong HĐTC cụ thể và trình bày của đương sự về phạm vi bảo đảm
12 Hủy toàn bộ bản án, quyết định không đúng Đa số tranh chấp HĐTD, thường Tòa án giải quyết 02 phần, phần tranh chấp khoản tiền vay (gồm gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phí) và phần xử lý tài sản bảo đảm. Đây là 2 phần độc lập không ảnh hưởng đến việc giải quyết, nên nếu chỉ giải quyết sai phần xử lý tài sản bảo đảm thì chỉ tuyên hủy một phần bản án, quyết định, không hủy toàn bộ bản án, quyết định.
13 Vụ án có dấu hiệu hình sự nhưng vẫn giải quyết theo tố tụng dân sự Trong vụ án về tín dụng có dấu hiệu hình sự như giả mạo giấy tờ, thế chấp nhiều nơi, cho vay không đúng qui trình… việc xử lý bằng thủ tục tố tụng dân sự là không bảo đảm, không đúng bản chất và áp dụng không đúng pháp luật, nên cần phải kiên quyết yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra xem xét, giải quyết theo đúng quy định.

 

Cụ thể, nếu bạn đọc quan tâm có thể gửi mail để được cung cấp chi tiết toàn văn hướng dẫn số 25/HD-VKSTC.